Ảo tưởng không được chết
Một suy tưởng về tưởng tượng, quan hệ nhân quả, trách nhiệm và nhu cầu của con người trong việc xây dựng những thế giới mạch lạc.
Trong đầu tôi đã bắt đầu viết:
“Ảo tưởng không được chết.”
Rồi tôi dừng lại.
Việc tôi tin chắc vào một ý tưởng không có nghĩa rằng, chỉ vì tôi tin, tất cả mọi người cũng phải tin. Trước khi khẳng định rằng ảo tưởng không được chết, còn có một câu hỏi đi trước:
Tại sao nó không được chết?
Hoặc có lẽ còn khó chịu hơn:
Tại sao nó sẽ không chết?
Và ta có thể cứ lùi lại như thế.
Mỗi câu hỏi chứa một câu hỏi có trước nó. Một chuỗi truy hồi mà, nếu để tiếp tục, cuối cùng sẽ chạm tới chính sự tồn tại của chúng ta: tại sao ta nghĩ, tại sao ta viết, tại sao giữ lại một ý tưởng thay vì để mọi thứ chìm vào quên lãng. Ta có thể lùi xa đến mức cuối cùng tự hỏi liệu có nên viết dù chỉ một từ hay không.
Nhưng tôi không muốn đi xa đến thế.
Không phải hôm nay.
Tôi sống giữa bốn bức tường. Đôi khi tôi cảm thấy mình rời khỏi căn phòng này ít hơn mức đáng ra phải thế. Tôi muốn đẩy mọi màn hình ra khỏi mắt. Tôi muốn ngửi nhiều hơn và nhìn ít hơn. Tôi thích cảm giác của gió.
Tôi không chịu được lâu ở ngoài. Nhưng trong khoảng thời gian ngắn ấy, trước khi mệt, tôi cảm thấy một điều gì đó.
Không phải bình yên.
Là nhẹ nhõm.
Và sự chính xác ấy quan trọng.
Bởi bình yên và nhẹ nhõm không tương đương. Bình yên, theo một nghĩa nào đó, giả định rằng xung đột đã chấm dứt. Nhẹ nhõm chỉ có nghĩa là trong chốc lát áp lực của nó đã giảm xuống.
Hơn nữa, không phải lúc nào cũng có thể bước ra ngoài.
Và mối quan hệ tôi đang cố mô tả cũng không đơn giản như “bên trong” và “bên ngoài”, dù ở mức trừu tượng đủ cao có lẽ có thể quy về như vậy. Tôi đang nói về mối quan hệ giữa ta và môi trường. Mà môi trường không phải lúc nào cũng thay đổi dễ dàng như mở một cánh cửa và bước qua ngưỡng.
Rút gọn vấn đề thành ở trong hay ở ngoài là nhầm một biến số với cả hệ thống.
Thật ra tôi có thể dừng ở đây.
Tôi đã nói điều mình muốn nói.
Mọi thứ sau đây thuộc về một nghĩa vụ khác: làm cho mình được hiểu.
Đó là sự mệt mỏi của tôi khi viết. Tôi không viết cho mình. Nếu chỉ viết cho mình, tôi đã kết thúc từ nhiều dòng trước. Có lẽ ngay ở tiêu đề. Toàn bộ phần phát triển sau đó đã diễn ra sau cánh cửa đóng kín, không cú pháp, không giải thích và có lẽ không cả từ ngữ.
Nhưng tôi viết cho bạn.
Để bạn hiểu tôi.
Và biết rằng suốt cả văn bản này —trừ tiêu đề— tôi đã viết cho bạn, giờ tôi thật sự xin bạn chú ý.
Nếu bạn đã hiểu tôi đang đi tới đâu mà không cần thêm một từ nào, tôi ước bạn đang ở trước mặt tôi. Chỉ cần nhìn nhau là đủ biết cái gì, bằng cách nào, khi nào, ở đâu và tại sao. Để khỏi phải chịu cái nhu cầu kỳ quặc này: biến ý nghĩ thành ký hiệu, ký hiệu thành câu, rồi câu lại thành ý nghĩ trong một tâm trí khác.
Nhưng ta không thể.
Vì thế tôi tiếp tục.
Ảo tưởng không được chết bởi việc thay đổi môi trường vật chất của ta không phải lúc nào cũng dễ chịu và, quá nhiều khi, thậm chí không thể.
Ảo tưởng là một lối thoát.
Dù “trốn thoát” có lẽ là một từ bị coi nhẹ một cách bất công.
Với người này, ảo tưởng là hình ảnh. Với người khác, là âm thanh. Với người khác nữa, là tượng, cơ thể, bề mặt. Có ảo tưởng để nhìn; có cái để chạm; có cái để nghe.
Và có cái để ngửi.
Tôi tiếc phải nói rằng tôi không nghĩ ra cách nào để ướp hương cho văn bản này, thứ có thể đến với bạn dưới dạng những bit dữ liệu. Tôi còn tiếc hơn vì không biết mùi hương nào có thể đưa bạn tới một môi trường nơi bạn cảm nhận chính xác điều mà lúc này bạn muốn cảm nhận.
Bởi nó không nhất thiết phải giống điều tôi cần.
Không nhất thiết phù hợp với cảm quan của tôi.
Hay đạo đức của tôi.
Hay luân lý của tôi.
Có thể những suy nghĩ của bạn khiến tôi khinh miệt. Có thể chỉ riêng khả năng tồn tại của một người như bạn cũng khiến tôi căm ghét. Có thể tôi phán xét bạn. Có thể tôi không bao giờ tha thứ. Có thể tôi cho rằng lên án bạn là chính đáng. Có thể người khác muốn trả thù bạn.
Và dù vậy, vẫn có thể hiểu bạn.
Hiểu không có nghĩa là miễn trách.
Sự phân biệt này quan trọng trong pháp luật cũng như ngoài pháp luật.
Hiểu chuỗi nhân quả dẫn tới một hành vi không nhất thiết xóa bỏ trách nhiệm của người thực hiện hành vi đó. Nhưng cũng không cho phép ta giả vờ rằng chuỗi ấy không tồn tại.
Tôi có thể trách bạn vì điều bạn làm và đồng thời tự hỏi điều gì đã đưa bạn tới đó.
Tôi có thể thừa nhận trách nhiệm của bạn mà không trao cho bạn độc quyền đối với mọi nguyên nhân.
Và có lẽ ở đó tôi có thể đưa ra một điều gì: một lựa chọn ít gây hại hơn. Một lối thoát khác. Một ảo tưởng nơi những xung lực nhất định có thể được biểu đạt mà không phải biến thành tổn hại.
Bạn chấp nhận hay từ chối nó không còn phụ thuộc vào tôi.
Bạn thậm chí có thể diễn giải nó theo cách khiến một ngày nào đó tôi căm ghét chính mình vì đã viết dù chỉ một từ.
Đó cũng là rủi ro của sáng tạo.
Bởi ảo tưởng, dù ta muốn hình dung nó đầy phép thuật, lâu đài và những sắc cầu vồng biết nói đến đâu, cũng không mang cùng một nghĩa với tất cả mọi người.
Nó thậm chí không mang cùng một nghĩa với cùng một người trong suốt cả đời.
Ảo tưởng thích nghi.
Nó biến đổi theo điều mà ta cần chạy khỏi.
Và rồi xuất hiện một nghĩa vụ khó hơn nhiều: hiểu.
Hiểu không có nghĩa là ca ngợi.
Hiểu không có nghĩa là biện minh.
Hiểu thậm chí không có nghĩa là thôi đau trước điều mình hiểu.
Đôi khi hiểu đòi hỏi chính điều ngược lại: đi xuyên qua sự khước từ của bản thân và thiết lập một liên hệ trí tuệ mà về cảm xúc ta chống lại việc chấp nhận.
Trao lợi ích của sự nghi ngờ không phải vì ai cũng vô tội, mà vì không một lời giải thích nghiêm túc nào nên bắt đầu bằng cách coi kết luận của nó là đã được chứng minh.
Và nếu ta đi tìm người có lỗi, có thể ta sẽ gặp một điều còn khó chịu hơn:
lỗi hiếm khi hành xử như một vật thể không thể chia nhỏ.
Nó phân bố.
Ở đây tôi phải chính xác.
Trách nhiệm pháp lý có thể được cá thể hóa. Quan hệ nhân quả thì hầu như không bao giờ.
Tòa án phải xác định ai thực hiện hành vi, với nhận thức nào, trong hoàn cảnh nào và với mức độ đáng trách nào. Pháp luật cần những giới hạn, bởi không có chúng thì pháp luật trở nên bất khả thi.
Thực tại không có nghĩa vụ đó.
Thực tại có thể chứa những chuỗi nhân quả khổng lồ.
Tôi đang đi lệch khỏi chủ đề.
Nhưng trong sự lệch ấy cũng có một điều gì.
Và vì câu hỏi thuần túy về ảo tưởng đã được giải quyết từ nhiều dòng trước, tôi muốn đề nghị một bài tập cuối cùng.
Một sinh thể trao vũ khí cho một sinh thể khác.
Nó không ra lệnh dùng vũ khí.
Không nói phải dùng chống lại ai.
Không đặt mục tiêu.
Thậm chí không đặc biệt khuyến khích bắn.
Nhưng có một tập hợp người, sự kiện và hoàn cảnh khác gây áp lực lên sinh thể thứ hai. Họ khiêu khích nó. Bẻ gãy nó. Từng chút hủy hoại nó.
Nó không tìm thấy lối thoát.
Hay chính xác hơn, nó không nhìn thấy.
Không ai chỉ cho nó.
Điều duy nhất nó đều đặn được học là chịu đựng.
Nhưng nó có vũ khí.
Nó học cách sử dụng.
Nó hiểu chức năng.
Và cuối cùng nó bắn.
Nó phạm tội.
Giờ tới câu hỏi khó chịu:
ai có lỗi?
Tôi không hỏi ai bóp cò. Đó là câu hỏi mô tả và có lẽ đơn giản.
Tôi hỏi về toàn bộ kiến trúc nhân quả.
Bao nhiêu phần thuộc về người đã trao vũ khí?
Bao nhiêu phần thuộc về người gây áp lực?
Bao nhiêu phần thuộc về những người tạo ra điều kiện để vũ khí ấy tồn tại và chuyền từ tay này sang tay khác?
Bao nhiêu phần thuộc về người chế tạo một bộ phận?
Bao nhiêu phần thuộc về người cung cấp kim loại?
Bao nhiêu phần thuộc về người thấy một cá nhân suy sụp và quyết định đó không phải việc của mình?
Bao nhiêu phần thuộc về một thiết chế lẽ ra có thể can thiệp?
Bao nhiêu phần thuộc về chính cá nhân cuối cùng quyết định nổ súng?
Tôi không nói rằng tất cả họ đều phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Điều đó thật phi lý.
Tôi nói rằng gây ra, góp phần, cho phép, tạo điều kiện, bỏ mặc, quyết định và thực hiện là những phạm trù khác nhau, dù trong nhu cầu có một câu trả lời đơn giản ta thích nén tất cả vào một từ:
lỗi.
Ta thậm chí có thể hình dung điều đó bằng toán học.
Giả sử có một biến cố cuối cùng E.
Không nhất thiết chỉ có một nguyên nhân C, mà là một tập hợp:
Một số biến có trọng số rất nhỏ. Những biến khác mang tính quyết định. Có biến cần thiết nhưng không đủ. Có biến chỉ đủ khi đi cùng những điều kiện nhất định. Có biến xa kết quả đến mức gán bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào cho nó đều vô lý.
Nhưng trọng số nhỏ không đồng nghĩa với chính xác bằng không.
Và ở đây xuất hiện câu hỏi thực sự khiến tôi quan tâm:
Tại sao, ở cuối một chuỗi khổng lồ của những trọng số nhân quả, nơi từng gam một có thể tích lại thành khối lượng lớn hơn thứ cá nhân cuối cùng đang gánh, ánh nhìn của ta gần như chỉ rơi vào mắt xích cuối cùng?
Vào người cuối cùng đã gục ngã.
Vào người cuối cùng đã hành động.
Vào người có mặt khi mọi thứ trước đó trở thành hình hài vật chất.
Có lẽ vì như vậy dễ hơn.
Mắt xích cuối có tên.
Có khuôn mặt.
Có thể ngồi trước mặt ta.
Một xã hội không thể ngồi vừa ghế bị cáo.
Một chuỗi nhân quả không thể bị còng tay.
Một thời đại không thể chấp hành án.
Tôi hiểu những phản đối.
Tôi hiểu những ví dụ cực đoan có lẽ đang bắt đầu hiện ra trong đầu bạn. Tôi cũng hiểu rằng có những hành vi gây ra cơn giận dữ mạnh đến mức bất kỳ nỗ lực giải thích nào cũng có vẻ xúc phạm.
Tôi không cố lấy đi cơn giận đó.
Hay nỗi đau của bạn.
Hay quyền của bạn đòi hỏi hậu quả.
Điểm tôi muốn nói không phải là xóa cá nhân bằng câu nói dễ chịu rằng “tất cả chúng ta đều có chút lỗi trong mọi chuyện”.
Đó chỉ là một sự đơn giản hóa khác.
Điểm tôi muốn nói gần như ngược lại:
nếu có một phần thuộc về tôi, tôi muốn biết nó.
Và tôi sẽ thấy dễ sống hơn nhiều trong một xã hội nơi mỗi người phải trả —theo nghĩa rộng nhất của từ này— chính xác cho phần thuộc về mình.
Không hơn.
Không kém.
Đó là môi trường của tôi.
Môi trường mà từng khoảnh khắc trong đời tôi đều muốn thoát khỏi.
Một môi trường thù địch và hèn nhát.
Một hệ thống gồm những đám đông không phối hợp, dù liên tục góp phần tạo nên kết quả tập thể, vẫn tuyên bố từng cá nhân là vô tội.
Ai cũng tuyên bố mình ưu việt về đạo đức.
Ai cũng cực kỳ dễ dàng tìm ra kẻ có lỗi ở đâu đó ngoài chính mình.
Và đó là lý do tôi cần ảo tưởng.
Tôi không thể tìm thấy thế giới mình muốn chỉ bằng cách ra ngoài cảm nhận không khí.
Cũng không bằng cách ngửi hương hương thảo Địa Trung Hải.
Ngay cả khi có một chiếc thuyền buồm neo ở cảng, chờ một ngày gió đẹp để tôi đi vài giờ, về nhà, nhảy xuống hồ bơi và ăn món fideuà nấu bằng củi.
Tất cả những điều đó có thể khiến tôi hạnh phúc.
Nhưng tôi vẫn thuộc về cùng một thế giới.
Môi trường mà tôi nói tới chỉ tồn tại trong ảo tưởng của tôi.
Trò chơi bàn là ảo tưởng.
Văn học là ảo tưởng.
Điện ảnh là ảo tưởng.
Phim bộ là ảo tưởng.
Ít nhất, chúng là một phần trong ảo tưởng của tôi.
Chúng cho phép tôi rời khỏi môi trường thiếu phối hợp, mâu thuẫn và bất công ấy trong vài giờ để bước vào một môi trường khác chịu sự chi phối của luật lệ.
Và luật lệ phải được phối hợp.
Phải có thể hiểu được.
Phải liên hệ với nhau.
Phải tạo ra những hệ quả có thể dự đoán bên trong hệ thống.
Nếu không, ảo tưởng vỡ ra.
Có lẽ đó là một trong những điều hấp dẫn tôi nhất ở trò chơi: một vũ trụ nhỏ có thể nhất quán hơn vũ trụ chứa nó.
Một bàn chơi có biên giới.
Thế giới thì không.
Trong một trò chơi, ta có thể định nghĩa tập trạng thái S, tập luật R, tập hành động khả dĩ A và một hàm chuyển trạng thái:
Nếu bạn làm điều này, điều kia xảy ra.
Nếu bạn đưa ra quyết định, hệ thống phản hồi theo những luật đã biết.
Bạn có thể tranh luận những luật ấy có tốt hay không. Bạn có thể thay đổi chúng. Bạn có thể tạo luật khác. Nhưng khi đang chơi, bạn không thể giả vờ rằng chúng không tồn tại chỉ vì bạn không thích hệ quả của chúng.
Bàn chơi không tuyên bố mình vô tội.
Bàn chơi phản hồi.
Đó là cách tôi bắt đầu tạo ra BALL.
Nhưng suy tư phía sau nó có lẽ đáng nhận nhiều sự chú ý hơn một trò chơi mà hôm nay có thể chính tôi cũng chẳng chơi.
Bởi BALL sinh ra từ một thứ có trước BALL.
Nó sinh ra từ con người muốn chạy trốn.
Từ nhu cầu thoát ra.
Từ tầm quan trọng của thời gian nhàn rỗi.
Từ khả năng của ta trong việc xây dựng những vũ trụ nhỏ khi vũ trụ lớn không đủ.
Và sự trốn thoát ấy không nhất thiết vô hại.
Tư duy có thể tạo ra thay đổi.
Ảo tưởng có thể cho ta thấy điều gì đang làm ta đau chính vì, trong một khoảnh khắc, nó cho phép ta nhìn nỗi đau từ bên ngoài.
Nó có thể chỉ ra điều gì đang thiếu.
Nó có thể cho phép ta thử một trật tự khác.
Nó có thể giúp ta nhận ra giải pháp.
Nếu không, ta chỉ tích lũy triệu chứng.
Ta chữa một triệu chứng.
Một cái khác xuất hiện.
Ta chữa cái thứ hai.
Cái thứ ba xuất hiện.
Và ta vẫn cần cùng một thứ thuốc:
ảo tưởng.
Không phải vì ảo tưởng giải quyết nguyên nhân, mà vì chính ta chưa bao giờ đi đủ sâu để tự giải quyết nó.
Và như thế ta trở lại điểm bắt đầu.
Ta có thể tiếp tục đặt câu hỏi.
Câu này sau câu khác.
Tại sao tôi cần ảo tưởng?
Tại sao tôi muốn chạy trốn?
Tại sao môi trường này khiến tôi cảm thấy thù địch?
Tại sao con người xây dựng những môi trường như thế?
Tại sao chúng ta lại như chúng ta?
Tại sao chúng ta tồn tại?
Tại sao có một cái gì đó thay vì không có gì?
Ta có thể tiếp tục đi lên —hoặc đi xuống— cho tới khi đặt ra những câu hỏi mà có lẽ ta còn chưa có ngôn ngữ thích hợp để diễn đạt.
Nhưng không có nghĩa vụ phải tới câu cuối cùng hôm nay.
Trước hết ta học các con số.
Sau đó học cộng.
Rồi trừ.
Nhân.
Chia.
Và chỉ rất lâu sau ta mới thử giải những phương trình mà ký hiệu của chúng từng hoàn toàn không thể hiểu nổi khi ta còn đang học viết số một.
Hãy theo tôi ở đây. Đừng bắt đầu nói rằng trước đó ta học nói, và trước nữa là học sử dụng dây thanh âm.
Bạn hiểu tôi muốn nói gì.
Đừng vội.
Đừng biến việc truy tìm câu hỏi nguyên thủy —câu hỏi mà đáp án sẽ giải được toàn bộ bí ẩn của đời sống— thành cái cớ để không trả lời những câu hỏi đã nằm trong tầm tay.
Trước hết, hãy đếm.
Rồi cộng.
Sau đó ta sẽ xem mình đi được bao xa.
Đó là BALL.
BALL là một ảo tưởng.